Tàu đệm khí là loại tàu không chỉ có thể hoạt động được trên mặt nước mà còn cả trên mặt đất nhờ chuyển động trên lớp đệm khí dưới tàu và trong váy của nó. Tàu được nâng lên bởi một đệm khí dưới thân phẳng của nó. Để tạo lớp đệm khí này, quạt nâng được sử dụng để tạo một buồng khí có áp suất. Buồng khí được duy trì nhờ có váy dạng túi bao quanh được bơm căng cũng nhờ quạt nâng trên.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

268 Lý thường Kiệt, F.14, Q.10, Tp.HCM

Tél: +84-8- 3864 7257 (local:5658)  Fax:+84-8 3865 3823

Email: Tuan-Ledinh@hcmut.edu.vn

æèæèæèÍÊøöøöøö

Nghiên cứu chế tạo Tàu đệm khí phục vụ dân sinh

        Description: Description: logoBK1

TÀU ĐỆM KHÍ BÁCH KHOA  BAKVEE

(BÁCH KHOA AIR CUSHION VEHICLE)

TÓM TẮT

       Tàu đệm khí là loại tàu không chỉ có thể hoạt động được trên mặt nước mà còn cả trên mặt đất nhờ chuyển động trên lớp đệm khí dưới tàu và trong váy của nó. Tàu được nâng lên bởi một đệm khí dưới thân phẳng của nó. Để tạo lớp đệm khí này, quạt nâng được sử dụng để tạo một buồng khí có áp suất. Buồng khí được duy trì nhờ có váy dạng túi bao quanh được bơm căng cũng nhờ quạt nâng trên. Nghiên cứu này đề cập các yêu cầu thiết kế, các nội dung về thiết kế sơ bộ, thiết kế kỹ thuật của tàu đệm khí 3 chỗ sử dụng vật liệu composit sợi thủy tinh-xốp-ván ép. Các thiết kế này đã được áp dụng cho việc chế tạo trong nước một nguyên mẫu tàu đệm khí 3 chỗ sử dụng thiết kế thi công và thiết kế chi tiết tại chỗ trong năm 2011. Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ của đề tài cấp Đại học Quốc gia trọng điểm B2010-20-10TĐ. Tàu đệm khí đầu tiên này có tên gọi là Bakvee đã được thử nghiêng cũng như chạy thử trên mặt đất và trên nước để kiểm tra các tính năng của nó.

CẤU HÌNH CHUNG

- Số chỗ: 3 người

- Chiều dài toàn bộ:             4,7 m

- Chiều rộng khi căng váy:  2,2 m

- Chiều cao nâng:                0,2 m

- Trọng lượng tàu không:    180 kg

- Công suất:                         26 HP

- Tốc độ:                              40-50 km/h

- Phạm vi hoạt động: lưỡng cư (mặt đất & mặt nước)

- Tầm hoạt động: 100-150 km

- Kết cấu:  ván ép-composite-foam/tổ ong

- Trang bị GPS

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

-  Nghiên cứu nhằm đến khả năng tự chế tạo hòan chỉnh tàu đệm khí theo tính tóan, thiết kế riêng với giá thành có thể chuyển giao công nghệ được.

- Sản phẩm này cũng sẽ tạo cơ sở cho việc phát triển các lọai tàu nhiều chỗ hơn (12-50 chỗ ngồi) cho các tuyến ngắn, tàu cứu hộ cho các bãi tắm và phục vụ cứu hộ sau lũ.

- Hòan thiện các công nghệ PU-ván ép, composite chân không, composite không khuôn.

GIỚI THIỆU CHUNG

Tàu cỡ nhỏ, chạy nhanh (high-speed small craft) được quan tâm nhiều trong cả quân sự lẫn dân sự, có mặt hầu hết ở các lãnh vực kinh tế biển. Các tàu khách cao tốc, tàu làm nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản, tàu thể thao, huấn luyện, cứu nạn, tàu thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt của hải quân,…được đề cập trong các nghiên cứu ứng dụng của lọai hình tàu này. Loại hình tàu cỡ nhỏ và chạy nhanh thường dẫn đến các thách thức kỹ thuật về kiểu dáng vỏ tàu, kết cấu, hệ thống động lực và điều khiển. Mỗi loại tàu được nghiên cứu nhằm vượt qua các vấn đề mà các tàu khác gặp phải hay nhằm đạt thuận lợi về tính năng nào đó. Tàu đệm khí (hovercraft / air cushion vehicle, hay ACV) có khả năng tách thân tàu khỏi mặt nước hoàn toàn. Ngoài việc giảm sức cản, loại tàu này còn có thêm khả năng di chuyển cả trên mặt đất và mặt nước (thuỷ bộ phối hợp). Nó cũng giảm sạt lỡ bờ khi chạy ở tốc độ cao trong cảng hay trong kênh rạch một cách đáng kể.

Do khả năng lưỡng cư thuỷ bộ nên tàu đệm khí  được sử dụng rộng rãi trong cứu hộ, thể thao dưới nước, hải quan, quân sự,…Mặc dù vậy, ở Việt Nam, hiện vẫn chưa thấy công bố nào về một thiết kế và qui trình công nghệ sản xuất hoàn chỉnh cũng như việc chế tạo và chạy thử  liên quan đến tàu đệm khí. Nghiên cứu chế tạo loại hình tàu này đã được nhiều công ty và tổ chức nghiên cứu quan tâm và một số bắt đầu nghĩ đến việc đầu tư vì thực tiễn áp dụng trong du lịch, cứu nạn, quốc phòng của nó. Nhưng việc sử dụng các thiết kế mua từ nước ngòai ở dạng bản vẽ bố trí chung, chỉ có một số ít các bản vẽ chi tiết, các hướng dẫn về công nghệ ở dạng mô tả,…nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình triển khai đóng thử nghiệm. Chưa kể một số công nghệ chế tạo loại hình tàu này như cắt nhiệt, khuôn chân không,...cũng cần có các nghiên cứu định lượng hầu áp dụng rộng rãi

TÀU ĐỆM KHÍ VỚI THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM

     Khi hoạt động, tàu luôn cách ly với mặt nước hay mặt đất và không có phần chìa vào nước, vì vậy nó có thể hoạt động cả trên mặt đất và mặt nước. Tuy vậy, đặc trưng quan trọng nhất của chúng vẫn được duy trì chính là khả năng lưỡng cư thuỷ bộ chứ không phải nhằm duy trì tốc độ cao. Khả năng lao xuống nước của tàu đệm khí là rất đáng giá nhưng khả năng phóng lại lên bờ lại càng đáng giá hơn. Chúng không cần cầu cảng được đầu tư tốn kém như các tàu truyền thống, chưa kể chi phí nạo vét duy trì mớn nước định kỳ trong khu vực.

     Tàu đệm khí được sử dụng rộng rãi trong cứu hộ, thể thao dưới nước, hải quan…Ở Việt Nam, (tính tới thời  điểm nhóm tác giả chế tạo thử tàu BAKVEE tỉ lệ 1/5, 2009) vẫn chưa thấy công bố nào về một thiết kế và qui trình công nghệ sản xuất hòan chỉnh cũng như việc chế tạo và chạy thử (tính đến thời điểm cuối hè 2011) liên quan đến tàu đệm khí. Nghiên cứu chế tạo lọai hình tàu này đã được nhiều Công ty, tổ chức tư nhân, xí nghiệp đóng tàu composite dân sự, hải quân, các khu du lịch sinh thái, khu công nghiệp…quan tâm và một số trong đó bắt đầu nghĩ đến việc đầu tư vì thực tiễn áp dụng trong du lịch, cứu nạn, quốc phòng của nó.

     Từ năm 2006, một số giảng viên từ hai bộ môn Kỹ thuật Tàu thủy và Hàng không – Trường Đại học Bách  khoa - ĐHQG Tp.HCM đã bắt đầu nghiên cứu về đề tài tàu đệm khí và từ đó đến nay đã có gần vài chục sinh viên thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, theo đuổi về thủy khí động lực học, sức bền kết cấu, ổn định, điều  khiển, thiết kế tàu…xung quanh vấn đề tàu đệm khí.

    12/2007, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQG “Thiết kế thi công tàu đệm khí” (mã số B2007-20-28, do TS. Lê  Đình Tuân chủ trì) được đăng ký và thực hiện, đã báo cáo nghiệm thu trong 2009.

     Nhóm nghiên cứu cũng đã chế tạo một mô hình tàu  đệm khí tỉ lệ 1/5 với chiều dài 829 mm (Hình dưới) nhằm kiểm nghiệm nguyên lý họat động của tàu đệm khí và lập các phương án kết cấu thân tàu, kết cấu váy, bố trí hệ thống động lực...Nó họat động rất tốt.

    Từ 2009, nhóm nghiên cứu trên khởi động nghiên cứu chế tạo tàu đệm khí 3 chỗ và đến  8/2011 thì cho xuất xưởng tàu đệm khí 3 chỗ đầu tiên của mình  với đề tài cấp Đại học Quốc gia trọng điểm B2010-20-10TĐNó chạy được gần như trên mọi địa hình.

Trên mặt đất

Trên cỏ

Trên bùn

Trên nước

Tàu đệm khí Bách Khoa chạy trên nhiều địa hình

ĐÁNH GIÁ

    Thực tế tại Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu được quan tâm nhiều là các lọai tàu đáy phẳng (planning hull), tàu trên cánh ngầm (hydrofoils) chủ yếu dựa trên nguyên lý thủy động lực học. Lọai sau cũng chỉ mới được nghiên cứu thử nghiệm mô hình trong bể thử (2005 - 2006) hay nghiên cứu thử nghiệm cho lọai tàu cỡ nhỏ (2006-2008), chưa triển khai sản xuất thương mại.

    Trong khi đó, nghiên cứu tập trung cho việc chế tạo lọai tàu đệm khí gắn với các mô hình tính tóan, thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công, công nghệ chế tạo, vật liệu phối hợp chưa được quan tâm đúng mức và đầu tư thích đáng. Rõ ràng vấn đề tính tóan, thiết kế trên cơ sở lý thuyết tàu đệm khí là vấn đề cốt lõi nhằm chủ động có được các cải tiến thiết kế theo điều kiện vật liệu và công nghệ trong nước. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu nhằm đến khả năng tự chế tạo hòan chỉnh theo tính tóan, thiết kế riêng với giá thành rẻ để có thể chuyển giao công nghệ cho sản xuất.

    Nhìn nhận về vấn đề thiết kế và phát triển sản phẩm thì cách làm của các nhóm trước đây bị hạn chế: các nhóm chỉ dừng lại ở mức độ sao chép sản phẩm mà không đi sâu vào nguyên lý, tính tóan cơ bản, thiết kế thi công, nhóm nghiên cứu đi sâu vào nguyên lý cơ bản của tàu đệm khí về các lãnh vực thủy khí động lực học, ổn định, điều khiển, sức bền kết cấu…để có thể thiết kế tàu đệm khí với qui mô lớn hơn. Sản phẩm này cũng sẽ tạo cơ sở cho việc phát triển các lọai tàu nhiều chỗ hơn (12-50 chỗ ngồi) cho các tuyến ngắn, tàu cứu hộ cho các bãi tắm và phục vụ cứu hộ sau lũ.

      Bên cạnh đó, một số công nghệ chế tạo lọai hình tàu này như cắt nhiệt, đúc khuôn chân không… chưa được các nhóm nói trên nghiên cứu định lượng nhằm đảm bảo chất lượng thi công. Nhóm nghiên cứu chú ý việc hòan thiện các công nghệ PU hay tổ ong - ván ép, composite chân không, composite không khuôn, công nghệ thi công chế tạo váy đệm khí để chủ động công nghệ sản xuất tiên tiến cho tàu đệm khí trong nước với giá thành hạ.

    Mặc dù tàu đệm khí đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng, sản xuất thương mại ở nhiều nước trên thế giới nhưng nếu chuyển giao thiết kế, công nghệ thi tàu đệm khí từ nước ngòai chắc chắn giá thành sẽ rất cao. Vấn đề nội địa hóa lọai hình tàu này từ khâu tính toán thiết kế đến chế tạo vì vậy có ý nghĩa rất lớn. Chưa kể rằng, lọai tàu đệm khí và họ hàng với lọai tàu này như WIGs, PARWIGs, thuỷ phi cơ thông thường ít nhiều liên quan đến kỹ thuật quân sự nên việc nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngòai là điều khó thực hiện hay nếu nhận chuyển giao sẽ rất tốn kém. Việc nhập đơn chiếc hay số lượng hạn chế thì việc duy trì họat động khai thác, bảo trì sẽ phụ thuộc vào nước ngòai. Bên cạnh đó, nhu cầu về một lọai tàu đa năng, họat động trên một vùng rộng, lưỡng cư (thủy, bộ phối hợp) phục vụ cứu hộ, cứu nạn sau lũ là rất lớn. Thật vậy, tổn thất về người ở các trận lũ lụt vừa qua sẽ giảm thiểu nếu tàu đệm khí được triển khai sản xuất và khai thác. Kinh nghiệm này có thể học được từ vấn đề cứu nạn sau cơn bảo Katrina tại Mỹ, trong đó tàu đệm khí được sử dụng nhiều và rất hiệu quả.

    Tàu đệm khí thuộc vùng giao giữa kỹ thuật hàng hải và kỹ thuật hàng không nên đề tài này còn phục vụ đào tạo nhân lực trong lãnh vực tàu thuyền tốc độ nhanh và tạo tiền đề cho các lọai hình tàu khác mà hai bên quan tâm như  WIGs, thủy phi cơ…mà cả hai ngành kỹ thuật đều cùng quan tâm. Chế tạo thành công tàu đệm khí sẽ khẳng định các kết quả nghiên cứu khoa học, khả năng xây dựng các qui trình công nghệ, khả năng nội địa hóa phương tiện giao thông nên đóng góp rất lớn cho việc tiết kiệm ngân sách nhà nước trong việc nhập ngọai các lọai hình phương tiện tương tự. Một điểm rất quan trọng nữa là thông qua việc nghiên cứu khoa học và chế tạo, chúng ta cũng tạo ra một  “networking” tốt giữa các nhà khoa học thuộc đa lãnh vực: hàng hải, hàng không, chế tạo, vật liệu, điều khiển,…và với công nghiệp, công ty thiết kế, nhà máy đóng tàu dân sự lẫn quân sự với các mức chuyển giao và hợp tác ở các mức độ khác nhau.

TÍNH MỚI, TÍNH ĐỘC ĐÁO, TÍNH SÁNG TẠO

    - Sản phẩm tàu đệm khí được nghiên cứu và chế tạo trong nước mở ra một gam tàu mới, phục vụ  trực tiếp cho vấn đề giao thông thủy, cứu hộ, cứu nạn lũ lụt, thể thao, huấn luyện…do khả năng lưỡng cư (amphibious vehicle) của nó.

    - Chế tạo thành công tàu đệm khí cỡ nhỏ (2-3 chỗ ngồi) được giới chuyên môn đánh giá cao, được báo đài, truyền hình (Tuổi trẻ, SGGP, Người Lao động, VTV, HTV, FBNC, HTC, báo điện tử trong và ngoài nước,...) đưa tin khen ngợi. Các hội thảo khoa học, triển lãm công nghiệp, hội đàm,...cũng được nhóm nghiên cứu chú trọng, cũng góp phần định hướng dần nhu cầu trong nước về loại tàu mới lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam gần đây. Tàu đệm khí không còn xa lạ với công chúng trong nước như trước đây.

 

Giới thiệu TĐK trên VTV2

Triển lãm Techmart 2012 - Hà Nội

KHẢ NĂNG VỀ THỊ TRƯỜNG

    Sở hữu bờ biển dài, cùng hệ thống sông ngòi dày đặc, nước ta có sẵn lợi thế phát triển các loại hình vận tải  cao tốc mang tính linh hoạt sử dụng các loại TĐK cỡ vừa và nhỏ. TĐK có thể được sử dụng trong du  lịch, vận chuyển hành khách, tuần tra hay vận tải trong quân sự. Với 3260 km bờ biển, tiền năng du lịch biển ở Việt Nam đáng được quan tâm. Tuy nhiên việc đi lại của du khách đôi khi vẫn gặp nhiều khó khăn và bất tiện (tàu cũ, tốc độ thấp) do sự đầu tư chưa đúng mức của các công ty kinh doanh du lịch. Việc đưa vào loại hình vận chuyển phục vụ du lịch bằng TĐK không những chia sẻ được những khó khăn cho ngành du lịch Việt Nam, mà còn tạo hứng thú đặc biệt cho du khách khi được sử dụng phương tiện giao thông mới lạ và an toàn, đảm bảo thời gian đi lại do tính rất cơ động và tốc độ cao.

     Được che phủ bởi 252.000 ha rừng ngập mặn, nhu cầu cần một loại phương tiện giao thông có tính linh hoạt cao như TĐK là không thể chối cãi. Hiển nhiên, TĐK có thể phục vụ du lịch sinh thái, tuần tra và khai thác rừng.

Hợp lưu của sông Lò Rèn và sông Vàm Sát trong rừng Cần Giờ

Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã vào danh sách khu dự trữ sinh quyển thế giới

 

    Việt Nam sở hữu khoảng 3000 hòn đảo ven bờ, do đó TĐK có thể được sử dụng như một phương tiện vận chuyển chuyên chở hành khách  và hàng hóa đi lại giữa đất liền và các đảo (tuyến ngắn). Bên cạnh đó, còn có thể sử dụng TĐK phục vụ du lịch đảo, phục vụ vận chuyển vật liệu xây dựng đảo ở thời điểm ban đầu khi không phải lúc nào cũng sẵn sàng cầu cảng (bắt buộc với tàu thuyền truyền thống) như nước bạn Indonesia vừa triển khai.

Tàu đệm khí Kartika đóng năm 2010 đang đổ bộ lên đảo ở Indonesia

    Ngoài mục đích thương mại, TĐK còn có một tiềm năng phục vụ cho mục đích cứu hộ hay quân sự, công tác tuần tra dọc sông ngòi, bờ biển, hoặc ngoài hải đảo xa xôi (quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa) rất hữu dụng nhờ tính linh hoạt, cơ động và khả năng vận tải cao.

Tàu đệm khí tuần tra hữu hiệu ở khu vực các cảng trên sông Sài Gòn

Tàu đệm khí cũng giúp giải quyết bài tóan phuơng tiện phục vụ vui chơi giải trí, thể thao cho dân chúng do tính độc đáo và thu hút của phương tiện. Địa lý thuận lợi hiếm có của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long với kênh rạch chằng chịt, khu vực có mớn nước thấp, bãi bồi, lay sậy,...rõ ràng sẽ cung cấp thị trường tiềm năng cho loại hình tàu này.

Giải trí với TĐK BAKVEE trên các bãi bồi

     Việc thiết kế và chế tạo thành công TĐK không những đáp ứng được những như cầu trong nước mà còn mở ra cơ hội thương mại trên thế giới nếu có những đầu tư đáng kể vào việc nghiên cứu.

      Hiện tại,  một số khả năng về thị trường vừa nói trên có thể được chi tiết hóa như sau:

   - Nhu cầu về tàu vui chơi giải trí tại các khu du lịch sinh thái, cứu hộ bờ biển, bãi tắm với điều kiện sản phẩm TĐK được kiểm định và cấp phép họat động ở dạng tàu vui chơi giải trí hay được Sở KHCN đưa vào dự án Xây dựng chương trình cứu hộ bờ biển, bãi tắm.

    -  Nghiên cứu đầu tư dòng sản phẩm mở rộng từ nghiên cứu này, trước mắt là TĐK cỡ nhỏ, sau đó là TĐK 12-50 chỗ phục vụ các tuyến ngắn du lịch, vận tải hành khách.

   - Triển khai đóng thử nghiệm TĐK phục vụ vui chơi giải trí với thiết kế thi công đang thực hiện của nhóm nghiên cứu cùng với tư vấn công nghệ và giám sát thi công đóng mới TĐK theo hợp đồng thỏa thuận.

    - Hợp tác với Nhà máy, Viện Kỹ thuật Hải quân các vấn đề liên quan đến phát triển sản phẩm giai đọan hậu  nghiên cứu về tăng tính năng TĐK, đảm bảo an tòan, tăng cường tuổi thọ TĐK. Các ký kết thỏa thuận sẽ theo từng chủ đề mà hai bên quan tâm.

THIẾT KẾ KỸ THUẬT, THIẾT KẾ THI CÔNG, ĐÓNG MỚI

     Tàu đệm khí Bách Khoa được thiết kế với quy trình rõ ràng: từ yêu cầu và nhiệm vụ thiết kế, các giai đoạn thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật cho đến công tác thiết kế thi công và đóng mới đều tuân theo các chuẩn mực. Các tính toán kết cấu, ổn định, hệ thống động lực,...đều được xem xét ở nhiều cấp độ khác nhau, một số phần được thực nghiệm kiểm chứng.

Thiết kế  TĐK Bách Khoa, BAKVEE

Hút chân không tạo thân tàu nguyên khối và tạo cấu trúc sandwich bằng composite

Thử nghiêng tàu đệm khí BAKVEE

Thử quay vòng tại bến

KHẢ NĂNG VỀ ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀO SẢN XUẤT

    Để đóng được TĐK và đưa ra khai thác ngòai thị trường, các doanh nghiệp phải  hội đủ các điều kiện: thiết kế tin cậy, công nghệ đóng phù hợp cho TĐK, khả năng về kiểm  định chất lượng bên trong (tổ chức đo lường, đánh giá) và bên ngòai (đăng kiểm, trung tâm đo lường) và giá cả hợp  lý. Ngòai một số công ty tư nhân, tổ chức cá nhân bắt đầu tự nghiên cứu và triển khai đóng TĐK chưa hội đủ các điều kiện đã đề cập, cho đến nay chưa có một TĐK nào được nghiên cứu và chế tạo hoàn chỉnh, có đầy đủ  hồ sơ kỹ thuật phục vụ kiểm định, đăng kiểm (nhằm được cấp phép lưu hành). Do vậy nghiên cứu chế tạo thành công TĐK, khả năng  cung ứng cho thị trường là rất lớn và chưa bị sản phẩm trong nước cạnh tranh. Tàu đệm khí sản xuất trong nước cũng sẽ có giá thành hạ do chủ động kỹ thuật đóng, sửa chữa, bảo trì có thể cạnh tranh với sản phẩm nhập ngọai trong tương lai gần.

TÁC ĐỘNG VÀ LỢI ÍCH MANG LẠI CỦA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

  1) Đối với lĩnh vực KH&CN có liên quan

   - Nghiên cứu thành công việc chế tạo TĐK sẽ khẳng định  bản lĩnh và trình độ nghiên cứu của các nhà kỹ  thuật của Việt Nam, trình độ công nghệ và khả năng tổ chức tính tóan thiết kế, chế tạo, xây dựng công nghệ…không  thua kém các đồng nghiệp nước ngòai.

   - Nghiên cứu này cũng tự tạo ra nguồn tư liệu khoa học kỹ thuật quý báu trong lãnh vực thiết kế và chế tạo tàu  đệm khí phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học trong các lãnh vực kỹ thuật tàu thủy, kỹ thuật hàng không, công nghệ vật liệu, điều khiển tự động, kỹ thuật đo lường. Điều này góp phần trực tiếp trong công tác đào tạo cán bộ kỹ  thuật một cách hiệu quả.

   - TĐK đầu tiên ở Việt Nam được nghiên cứu và chế tạo bài bản, kích thích cho các dòng sản phẩm tàu  nhanh, phi cơ cùng phát triển (tàu WIGS, PARWIG, thủy phi cơ…) bằng kinh nghiệm thực hiện và tổ chức của nhóm đi  tiên phong.

   - Góp phần nâng cao trình độ đóng tàu của công nghiệp tàu thủy Việt với gam tàu xác định.

 2) Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu

    - Có thêm mặt hàng mới tham gia thị trường;

    - Mở ra cơ hội kinh doanh du lịch nhờ sự hấp dẫn của loại hình TĐK;

    - Giải quyết một phần về phương tiện cứu hộ, cứu nạn sau lũ.

    - Phục vụ an ninh, quốc phòng.

 3) Đối với kinh tế - xã hội và môi trường

    - Góp phần mở rộng việc chế tạo phương tiện mới, tăng tỉ lệ nội địa hóa (do đó giảm ngọai nhập). Khi sản xuất  ổn định và có thị trường, tăng sức cạnh tranh và mang lại hiệu quả kinh tế;

    - Tàu đệm khí sử dụng các vật liệu và công nghệ ít gây hại đến môi trường, tiết kiệm năng lượng trong thi công (cắt nhiệt, composite chân không, kỹ thuật không khuôn…);

    - Góp phần khai thác các vùng sông nước có mớn nước nông hoặc bị rong rêu không sử dụng được lọai tàu chân vịt , rừng ngập mặn, hải đảo… hiệu quả hơn;

    - Giải quyết bài tóan phuơng tiện phục vụ vui chơi giải trí, thể thao cho dân chúng cũng như cứu hộ, cứu nạn.

 

Đại diện nhóm nghiên cứu Tàu đệm khí Bách Khoa

 

TS.KS.  LÊ ĐÌNH TUÂN < tuan-ledinh@hcmut.edu.vn  >

Đại học Bách khoa - ĐHQG Tp.HCM

268 Lý thường Kiệt, F.14, Q.10, Tp.HCM

Tél: +84-8- 3864 7257 (local:5658)  Fax:+84-8 3865 3823

Handy: 0908 191 766 / i-phone email: taudemkhibachkhoa@gmail.com

Các tin khác
» Hội nghị Cơ học Kỹ thuật Toàn quốc chào mừng 40 năm thành lập Viện Cơ học
» Thông báo số 1 về cuộc thi Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 31 – 2019
» Danh sách các thầy, cô trưởng tiểu ban chuyên môn olympic lần thứ 31 – 2019
» Đề cương thi Olympic môn Cơ kỹ thuật
» Đề cương thi Olympic môn Sức bền vật liệu